'Đêm sáng' của phụ nữ di cư

Xuất bản: 08:28, Thứ Sáu, 01/08/2014
.
Đắng lòng trước nỗi mưu sinh
 
Rất nhiều người chọn con đường mưu sinh tại chợ đầu mối Long Biên. Họ làm mọi công việc nặng nhọc, vất vả, chủ yếu vào ban đêm như gánh hàng, khuân vác, kéo xe, mua bán tôm cá... Ở đấy, cuộc sống của họ trải qua biết bao nhọc nhằn, cơ cực. Họ bị coi thường là “cửu vạn”, bị khinh rẻ, chịu tủi nhục, bị bớt tiền công, mất hàng, tranh khách... Chị Lê Thị H. (33 tuổi ở Tĩnh Gia, Thanh Hóa) cho biết: “Gánh thuê ở chợ Long Biên chủ yếu là phụ nữ. Nhóm gánh có hàng nghìn người, cứ đến lúc nông nhàn là rất đông. Chuyện tranh giành, chửi nhau trong đám gánh thuê là thường xuyên nhưng mình phải cố nhịn. Trong khi gánh, nếu sơ ý va chạm, làm đổ thùng hàng thì sẽ bị bắt đền. Có lần tôi phải đền mấy trăm nghìn vì đánh đổ thùng lựu. Hai vai tôi ban đầu bị trầy trụa hết, bây giờ thì đã chai cứng lại...”.  Chị Bùi Thanh Nh. (50 tuổi ở Yên Lạc, Vĩnh Phúc) thì: “Đối tượng ở chợ rất đa dạng, phức tạp: giới chủ, người làm thuê, người bán hàng nhỏ lẻ, kẻ đòi nợ thuê, người thu dọn bán hàng cho chủ còn gọi là bán phỏm... Dân lao động ở chợ bị bạo lực rất nhiều nhưng phải nhịn thôi. Nếu mình cương lên mà phản ứng lại thì rồi phải bỏ chợ mà đi”... Chị Mai Thị Ch., (34 tuổi, ở Xuân Trường, Nam Định)  chuyên mua bán đồng nát lại gặp cảnh: “Khi tôi đến một ngõ ở phố Hòe Nhai, thấy có cái can nhựa bị cắt thủng vứt  trước cửa nhà. Tôi cúi xuống nhặt thì bị gia đình đó chửi bới. Họ nói tôi là đứa ăn cắp, ăn trộm. Tôi thấy đơn độc và bị xúc phạm. Có ông lại bảo: Đi làm gì, vào đây với anh, rồi anh sẽ cho tiền. Tôi chỉ biết bỏ chạy”...
 
Còn nơi họ sống ư? Chỉ là những khu nhà trọ chật chội, những “căn nhà” nổi trên thuyền, tập hợp thành “xóm bụi”, thiếu thốn đủ bề. Với chị Nguyễn Thị Q. (62 tuổi, ở Thanh Oai, Hà Nội): “Chúng tôi từng phải múc nước sông lên dùng vì không đủ tiền mua nước sạch. Để có điện sinh hoạt, chúng tôi phải dùng bình ắc quy. Mãi gần đây, có hộ trên bờ thương tình cho mắc nhờ bóng điện. Nhưng giá điện tăng, chúng tôi phải đưa cho nhà họ 200 ngàn/tháng”. Chị Lê Thị Th. (36 tuổi, ở Phú Xuyên, Hà Nội) bị chồng đánh và bắt buộc phải đưa con di cư. “Nhưng cháu không hòa đồng được với các bạn ở đây, thường bị các bạn trêu chọc, phân biệt kỳ thị kiểu nhà quê – thành phố, cháu rất tự ti, sức học yếu”. Với chị Nguyễn Thị Kh. 64 tuổi, Việt Trì, còn là nỗi đau xé lòng: “Vợ chồng hục hặc, bỏ nhà đi làm ăn. Con trai 17 tuổi bị bệnh phổi không có tiền chạy chữa nên có nhiều cám dỗ lắm. Người ta đưa xuống 50-60 gói thuốc phiện, bảo bán. Cũng thèm tiền lắm nhưng không dám làm. Người ta lại mách cho cháu dùng phiện sẽ bớt đau. Thương con, nhẹ dạ, cho dùng thử, ai dè cháu mắc nghiện, đi cướp giật, đi tù 3 năm rồi chết trong tù khi mới vào được gần hai chục ngày. Ở nơi xa xứ này, thấy mình sao cô độc”...

 

Cuộc triển lãm ghi lại những câu chuyện không giống ai của những lao động di cư...
Cuộc triển lãm ghi lại những câu chuyện "không giống ai" của những lao động di cư...
 
Ánh sáng cuối đường hầm...
 
Trước thực trạng đó, từ tháng 10/2010, Viện Phát triển sức khỏe cộng đồng Ánh sáng đã cùng với các đối tác thực hiện dự án “Phụ nữ và nam giới di cư chung tay phòng chống các hình thức bạo lực”. Gần 2 năm tiếp cận đối tượng, liên kết các nhà cung cấp dịch vụ trợ giúp, tiến hành vận động chính sách với chính quyền địa phương, các chủ nhà trọ; xây dựng tài liệu truyền thông về nhóm những phụ nữ di cư, kêu gọi sự quan tâm của cộng đồng, xã hội... đã có hơn 100 thành viên là phụ nữ di cư bị bạo lực và những người từng gây ra bạo lực tham gia vào nhóm. Các thành viên được sinh hoạt thường xuyên, được nâng cao năng lực, kiến thức về phòng chống bạo lực gia đình, được tư vấn về tâm lý, chăm sóc sức khỏe... Triển lãm “Đêm sáng” là những thước phim sinh động về những mảnh đời “chẳng ai giống ai”. Đã có người vượt qua số phận khi cảm nhận được sự quan tâm, giúp đỡ “Tôi thấy cuộc sống của mình thay đổi nhiều từ khi gặp được người biết hoàn cảnh của mình, mời mình tham gia vào nhóm.  Nếu không tham gia vào nhóm, chắc đời tôi chỉ biết đến mỗi con thuyền nan, nỗi buồn và nghèo túng”. Đã có người tự mình học cách can đảm, bảo vệ mình:  “Được chị em rủ vào nhóm, đi sinh hoạt hằng tháng, tôi đã bớt đi nỗi sợ hãi khi bị bạo lực, đã cố gắng bình tĩnh để tìm cách tự giải thoát mình khỏi lúc đó, tránh không bị thương tích nặng nề” . Người từng gây ra bạo lực đã có những thay đổi về nhận thức, hành vi: “Qua những đợt truyền thông về bạo lực, lời nói đến hành động của tôi đã thay đổi. Tôi không còn đánh vợ nữa. Ngày trước, thường xưng hô với vợ là cô và tôi thì nay đã chuyển sang xưng anh – em, tình cảm vợ chồng thấy gắn kết hơn”. Và trên hết, đằng sau những vất vả, lo toan, vẫn bắt gặp những chân chất và niềm tin ở tương lai: “Con tôi mới 5 tuổi nhưng tôi quyết tâm chịu cực để cho con học đến nơi đến chốn, ít nhất cháu phải vào đại học. Tôi mơ sắp tới có thêm chút vốn, sẽ thuê được cả quầy bên chợ hải sản để kinh doanh...” 
 
 
Hoàng Anh
 
.
.
.
.
TìmKiếm
.
.
.
.
.
.